CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH

MỘT SỐ QUY ĐỊNH MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2024/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG TTCS
Ngày đăng 09/07/2024 | 16:12  | Lượt xem: 365

MỘT SỐ QUY ĐỊNH MỚI CỦA

NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2024/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG TTCS

 (Nội dung phổ biến tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc ngày 28/6/2024)

---

 

Nghị định số 49/2024/NĐ-CP ngày 10/5/2024 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin cơ sở (gọi tắt là Nghị định 49), gồm 4 chương, 43 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024.

Nghị định này thay thế Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày 06/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động thông tin cơ sở (gọi tắt là Quyết định 52).   

Nghị định 49 đã thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Chỉ thị số 07-CT/TW của Ban Bí thư (khóa XII) về đẩy mạnh công tác thông tin cơ sở trong tình hình mới, kế thừa một số quy định còn phù hợp của Quyết định 52.

Đồng thời Nghị định 49 đã bổ sung một số quy định mới phù hợp thực tiễn hiện nay của hoạt động TTCS và sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

1. Quy định về mở rộng không gian phát triển và tương tác với người dân trong hoạt động TTCS

- Quyết định 52 chỉ quy định hoạt động TTCS là hoạt động cung cấp thông tin thiết yếu đến người dân theo chiều từ trên xuống là chủ yếu, thông qua 05 loại hình thông tin: (i) đài truyền thanh cấp xã; (ii) bản tin TTCS; (iii) tài liệu không kinh doanh phục vụ hoạt động TTCS; (iv) thông tin trực tiếp qua báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở; (v) bảng tin công cộng.

- Nghị định 49 quy định cụ thể thông tin cơ sở là thông tin thiết yếu được truyền tải trực tiếp đến người dân thông qua 08 loại hình thông tin: (i) đài truyền thanh cấp xã; (ii) bảng tin công cộng; (iii) bản tin thông tin cơ sở; (iv) tài liệu không kinh doanh phục vụ hoạt động TTCS; (v) tuyên truyền trực tiếp qua tuyên truyền viên cơ sở; (vi) tuyên truyền trên cổng hoặc trang thông tin điện tử; (vii) tuyên truyền qua mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin trên Internet; (viii) tuyên truyền qua tin nhắn viễn thông.

- Hoạt động thông tin cơ sở có 03 nhiệm vụ chủ yếu:

Thứ nhất, cung cấp, phổ biến thông tin thiết yếu trực tiếp đến người dân thông qua 08 loại hình thông tin.

Thứ hai, tiếp nhận thông tin phản ánh và thông tin nội dung trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đối với thông tin phản ánh của người dân thông qua hoạt động của đài truyền thanh cấp xã, cổng/trang thông tin điện tử, mạng xã hội, các ứng dụng nhắn tin trên Internet, tuyên truyền viên cơ sở.

Thứ ba, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền cơ sở.

2. Quy định về chính sách phát triển thông tin cơ sở

Quy định chính sách của Nhà nước về phát triển hoạt động TTCS trong Nghị định 49 là nội dung mới so với Quyết định 52.

Thứ nhất, Nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết cho hoạt động TTCS.

Thông tin cơ sở là hoạt động truyền thông của chính quyền, nên chính quyền các cấp phải bảo đảm các nguồn lực về cơ sở vật chất, kinh phí, nhân lực để xây dựng, phát triển hệ thống, tổ chức và duy trì hoạt động TTCS.

Thứ hai, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho người tham gia hoạt động TTCS.

Đặc điểm của nhân lực hoạt động TTCS, nhất là ở xã, phường, thị trấn là hoạt động không chuyên trách, không được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc không ổn định, thường xuyên thay đổi. Do đó, trách nhiệm của chính quyền, cơ quan quản lý các cấp phải định kỳ tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho những người tham gia hoạt động TTCS về chuyên môn, nghiệp vụ tuyên truyền, kỹ năng sử dụng thiết bị kỹ thuật, công nghệ, kỹ năng chuyển đổi số trong hoạt động TTCS.

3. Quy định về hoạt động của đài truyền thanh và trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã

Thứ nhất, quy định đài truyền thanh cấp xã là phương tiện thông tin, tuyên truyền được thiết lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn để thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền và phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền do Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý.

Quy định như trên đã xác định rõ: (i) đài truyền thanh cấp xã chỉ là phương tiện thông tin, tuyên truyền của chính quyền cơ sở, không phải là cơ quan chuyên môn của cấp xã. (ii) Tên gọi chính thức của phương tiện truyền thanh ở cấp xã là đài truyền thanh, không gọi là trạm truyền thanh.

Thứ hai, ngoài việc cung cấp, phổ biến thông tin thiết yếu đến người dân bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số tại địa phương; đài truyền thanh cấp xã có nhiệm vụ thông tin nội dung trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đối với thông tin phản ánh của người dân phù hợp với tính chất, yêu cầu của nội dung thông tin phát trên đài truyền thanh.

Thứ ba, căn cứ điều kiện thực tế, đài truyền thanh cấp xã tiếp sóng, phát lại chương trình thời sự và các chương trình khác của Đài Tiếng nói Việt Nam, đài phát thanh và truyền hình cấp tỉnh để phục vụ nhu cầu thông tin thiết yếu của người dân. Như vậy, việc tiếp sóng, phát lại các chương trình phát thanh của đài Trung ương, đài cấp tỉnh do chính quyền địa phương quyết định (quy định trong Quy chế hoạt động của đài truyền thanh), không phải là quy định bắt buộc.

Thứ tư, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm bố trí nhân sự vận hành hoạt động đài truyền thanh là công chức văn hóa - xã hội hoặc người hoạt động không chuyên trách cấp xã; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho nhân sự vận hành hoạt động của đài truyền thanh.

- Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, quy định: Công chức văn hóa - xã hội có nhiệm vụ giúp UBND cấp xã tổ chức các hoạt động thông tin, truyền thông (trong đó có hoạt động của đài truyền thanh).

- Nghị định 49 quy định Chủ tịch UBND cấp xã bố trí công chức văn hóa - xã hội hoặc người hoạt động không chuyên trách cấp xã vận hành hoạt động của đài truyền thanh để địa phương có thể bố trí nhân sự là người hoạt động không chuyên trách cấp xã phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Về nội dung này, Sở TTTT phối hợp với Sở Nội vụ, các cơ quan liên quan tham mưu UBND cấp tỉnh xây dựng, trình HĐND cấp tỉnh ban hành quy định về chức danh và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã bố trí 01 người hoạt động không chuyên trách cấp xã phụ trách đài truyền thanh.

Thứ năm, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm bố trí cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật, công nghệ và các điều kiện cần thiết đáp ứng hoạt động của đài truyền thanh; kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên của đài truyền thanh; chi trả nhuận bút, thù lao đối với sản phẩm truyền thông theo quy định về nhuận bút, thù lao do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành.

- Đối với thiết bị kỹ thuật của đài truyền thanh khi cần thay thể, nâng cấp, căn cứ để tính hao mòn, khấu hao tài sản, đề nghị các địa phương nghiên cứu áp dụng quy định tại điểm 2 (các loại đầu thu phát tín hiệu kỹ thuật số, máy ghi âm, máy ảnh, thiết bị âm thanh, thiết bị truyền dẫn, thiết bị thông tin liên lạc khác…), điểm 3 (máy móc thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật như thiết bị âm thanh, ánh sáng, loa, micro, đèn…) thuộc phần V, Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 23/2023/TT-BTC ngày 25/4/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo quy định trên các thiết bị kỹ thuật này có thời gian khấu hao là 5 năm.

- Đối với kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên của đài truyền thanh cấp xã (sửa chữa, bảo trì, chi phí sim của cụm thu phát thanh…), đề nghị UBND các xã, phường, thị trấn nghiên cứu áp dụng quy định tại điểm g (chi hoạt động phát thanh, truyền thanh) thuộc khoản 2, Điều 10 Thông tư số 344/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.

- Đối với chi trả nhuận bút, thù lao đối với sản phẩm truyền thông của đài truyền thanh xã, phường thực hiện theo quy định về nhuận bút, thù lao do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành.

4. Quy định về kết nối bảng tin điện tử cộng cộng

- Nghị định 49 quy định bảng tin điện tử công cộng kết nối với hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở cấp tỉnh theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Theo Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 20/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao hiệu quả hoạt động TTCS dựa trên ứng dụng CNTT đã quy định thiết lập bảng tin điện tử công cộng đặt tại các địa điểm thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin được kết nối với hệ thống thông tin nguồn để tiếp nhận nội dung thông tin tuyên truyền và quản lý, giám sát được hoạt động của bảng tin điện tử công cộng.

- Hiện nay, việc kết nối bảng tin điện tử công cộng thực hiện theo hướng dẫn tại Quyết định số 1381/QĐ-BTTTT ngày 07/9/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Chiến lược phát triển lĩnh vực TTCS, cụ thể:

- Đối với cấp huyện: UBND cấp huyện thiết lập bảng tin điện tử công cộng cỡ lớn đăng phát thông tin bằng chữ viết, hình ảnh, videoclip, chương trình truyền hình, đặt ngoài trời tại các địa điểm công cộng, giao Trung tâm Truyền thông và Văn hóa/Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao cấp huyện trực tiếp quản lý, vận hành hoạt động. Căn cứ điều kiện kinh tế, yêu cầu nhiệm vụ của địa phương, lựa chọn loại bảng tin có kích thước phù hợp, loại bảng tin 01 mặt/02 mặt…  Bảng tin điện tử công cộng của cấp huyện yêu cầu được kết nối với Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh để nhận nội dung thông tin nguồn từ Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và quản lý, giám sát được hoạt động. 

- Đối với cấp xã: Căn cứ điều kiện kinh tế, yêu cầu nhiệm vụ công tác thông tin, tuyên truyền trên địa bàn, UBND cấp xã lựa chọn loại bảng tin điện tử phù hợp về kích thước, có thể hiển thị chữ viết hoặc hiển thị cả chữ viết, hình ảnh, đặt trong tòa nhà công sở, nhà văn hóa hoặc đặt ngoài trời. Thực tế hiện nay, các xã, phường, thị trấn chủ yếu sử dụng loại bảng tin điện tử hiển thị chữ viết nên không yêu cầu kết nối với Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh. Trường hợp cấp xã có điều kiện thiết lập bảng tin điện tử công cộng cỡ lớn đăng phát thông tin bằng chữ viết, hình ảnh, videoclip, đặt ngoài trời tại các địa điểm công cộng có thể kết nối với Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh.

- Việc kết nối bảng tin điện tử công cộng với Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh thực hiện theo hướng dẫn tại mục 4, phần IV Văn bản số 2455/BTTTT-TTCS ngày 27/6/2023 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn nghiệp vụ về chức năng, tính năng kỹ thuật của Hệ thống thông tin nguồn trung ương và Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh (phiên bản 2.0).

5. Quy định về xuất bản bản điện tử của bản tin thông tin cơ sở

Đây là quy định mới so với Quyết định 52 chỉ quy định xuất bản bản tin TTCS dạng bản in theo Luật Báo chí. Nghị định 49 quy định bản tin TTCS sau khi được cấp giấy phép xuất bản có thể xuất bản dạng bản điện tử đăng tải trên cổng hoặc trang thông tin điện tử và các phương tiện thông tin điện tử khác.

6. Quy định về các hình thức phát hành tài liệu không kinh doanh phục vụ hoạt động TTCS

- Nghị định 49 quy định cụ thể các hình thức xuất bản tài liệu không kinh doanh phục vụ hoạt động TTCS gồm: sách in, sách chữ nổi, tờ rời, tờ gấp, tranh, ảnh, áp phích, bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách. Việc quy định cụ thể các hình thức phát hành tài liệu không kinh doanh trên phù hợp với đặc điểm của thông tin cơ sở là nội dung thông tin ngắn gọn, trực quan, dễ xem, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo và phục vụ nhu cầu tiếp cận thông tin của người khiếm thị.

- Nghị định 49 quy định cụ thể tài liệu không kinh doanh phát hành dạng điện tử được đăng tải trên bảng tin điện tử công cộng, cổng hoặc trang thông tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin trên Internet và các phương tiện thông tin điện tử khác theo quy định của pháp luật về thông tin điện tử và pháp luật có liên quan.

7. Quy định về đối tượng và thẩm quyền công nhận tuyên truyền viên cơ sở

Thứ nhất, quy định tuyên truyền viên cơ sở là những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm 03 đối tượng: Bí thư chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận.

Quy định này xác định địa vị pháp lý, tính chính danh cho người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố khi được giao thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn cộng đồng dân cư và thực hiện chế độ, chính sách đối với người làm thông tin cơ sở ở thôn, tổ dân phố.

Thứ hai, Chủ tịch UBND cấp xã căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ tổ chức đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở và những người được lựa chọn đáp ứng được yêu cầu cơ bản quy định tại khoản 2, Điều 21 của Nghị định 49 để quyết định số lượng cụ thể tuyên truyền viên cơ sở của địa phương mình; đồng thời hằng năm có rà soát thay thế, kiện toàn đội ngũ này.

Thứ ba, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm bố trí kinh phí chi trả thù lao cho tuyên truyền viên cơ sở theo quy định về chi trả nhuận bút, thù lao đối với các sản phẩm truyền thông của cấp huyện, cấp xã do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành và các điều kiện cần thiết để tuyên truyền viên cơ sở hoạt động.

Kinh phí chi thù lao cho tuyên truyền viên cơ sở, đề nghị UBND các xã, phường, thị trấn nghiên cứu áp dụng quy định tại điểm e (chi hoạt động văn hóa, thông tin) thuộc khoản 2, Điều 10 Thông tư số 344/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.

8. Quy định về sử dụng các nền tảng để tổ chức hoạt động TTCS

Đây là những nội dung mới so với Quyết định 52, quy định việc sử dụng cổng/trang thông tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin trên Internet, nhắn tin đến các thuê bao điện thoại di động để tổ chức hoạt động TTCS.

Thứ nhất, tuyên truyền trên cổng/trang thông tin điện tử:

Nghị định quy định cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cả 04 cấp: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã sử dụng cổng/trang thông tin điện tử để tuyên truyền, phổ biến thông tin thiết yếu đến người dân và có trách nhiệm: (i) quản lý và chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đăng tải trên cổng/trang; (ii) giải quyết hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết các thông tin phản ánh của người dân trên cổng/trang.

Thứ hai, tuyên truyền qua mạng xã hội, các ứng dụng nhắn tin trên Internet

Nghị định quy định trách  nhiệm của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở 04 cấp: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xãthôn, tổ dân phố khi sử dụng mạng xã hội, các ứng dụng nhắn tin để cung cấp, phổ biến thông tin đến người dân: (i) chịu trách nhiệm về nội dung thông tin cung cấp, phổ biến; (ii) xây dựng quy trình tiếp nhận thông tin phản ánh và thông tin nội dung trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đối với thông tin phản ánh của người dân; (iii) sử dụng tên hiệu thật của cơ quan, tổ chức, thôn, tổ dân phố khi cung cấp, phổ biến thông tin.

Nghị định cũng quy định người dân khi phản ánh thông tin qua mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin có trách nhiệm: (i) sử dụng tên, địa chỉ thật của mình khi phản ánh thông tin để bảo đảm việc trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đến đúng người phản ánh thông tin; (ii) chịu trách nhiệm về nội dung thông tin phản ánh, bảo đảm đúng sự thật; (iii) thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ qua mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin trên Internet theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, tuyên truyền qua tin nhắn viễn thông

Nghị định quy định đối tượng tuyên truyền thông tin thiết yếu đến người dân qua tin nhắn viễn thông là cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương và UBND cấp tỉnh.

Cơ quan, tổ chức ở trung ương và UBND cấp tỉnh căn cứ yêu cầu về nội dung, phạm vi tuyên truyền đến người dân để lựa chọn doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ tin nhắn theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

9. Quy định về tổ chức hội thi, liên hoan, giải thưởng về TTCS

- Đây là quy định mới so với Quyết định 52. Nghị định quy định trách nhiệm của Bộ TTTT, UBND cấp tỉnh và cấp huyện  tổ chức hội thi, liên hoan, giải thưởng thuộc lĩnh vực TTCS.

- Thực tiễn thời gian qua, một số địa phương đã tổ chức các hội thi, liên hoan về truyền thanh cơ sở như: Lào Cai, Phú Thọ, Nghệ An, Đắk Lắk…; hội thi tuyên truyên viên cơ sở về cải cách hành chính của Hà Nội; cuộc thi về bảng tin công cộng tuyên truyền nhiệm vụ chính trị của Hà Nội. Cục TTCS đã phối hợp với một số địa phương tổ chức hội thi các đội tuyên truyền lưu động về tuyên truyền về biển, đảo, an toàn giao thông v.v. Tuy nhiên việc tổ chức các hội thi, liên hoan trên chưa có quy định pháp lý cụ thể.

- Theo Quyết định số 936/QĐ-BTTTT ngày 07/6/2024 của Bộ trưởng Bộ TTTT ban hành kế hoạch triển khai thi hành Nghị định số 49, Cục TTCS tham mưu Bộ TTTT xây dựng, ban hành Thông tư quy định cụ thể về tổ chức hội thi, liên hoan, giải thưởng thuộc lĩnh vực TTCS.

10. Quy định về chế độ nhuận bút, thù lao đối với các sản phẩm truyền thông của cấp huyện, cấp xã

- Đây là quy định mới so với Quyết định 52. Nghị định quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng, trình HĐND cấp tỉnh ban hành quy định cụ thể về chế độ nhuận bút, thù lao đối với các sản phẩm truyền thông của cấp huyện, cấp xã theo quy định của pháp luật và nguồn kinh phí của địa phương.

- Từ trước đến nay, một số địa phương đã ban hành quy định chế độ nhuận bút, thù lao đối với các sản phẩm truyền thông của cấp huyện, cấp xã, như:

+ Tỉnh Đắk Nông: Quyết định số 24/2016/QĐ-UBND ngày 09/6/2016 của UBND tỉnh ban hành Quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí; cổng/trang thông tin điện tử; đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện; bản tin, tài liệu không kinh doanh của cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

+ Tỉnh Bình Phước: Quyết định số 01/2020/QĐ-UBND ngày 02/01/2020 của UBND tỉnh ban hành Quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí; cổng/trang thông tin điện tử; đài truyền thanh-truyền hình cấp huyện; bản tin của cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

+ Tỉnh Bến Tre: Quyết định số 12/2020/QĐ-UBND ngày 08/4/2020 của UBND tỉnh Quy định mức chi trả nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm được đăng tải trên cổng, trang thông tin điện tử các cấp; bản tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và các tác phẩm được phát trên đài truyền thanh cấp huyện, đài truyền thanh cấp xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre,

+ Tỉnh Bắc Ninh: Quyết định số 09/2020/QĐ-UBND ngày 28/4/2020 ban hành Quy định về chế độ nhuận bút, thù lao trong hoạt động xuất bản bản tin, phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

- Đề nghị Sở TTTT phối hợp với Sở Tài chính, các cơ quan liên quan nghiên cứu áp dụng một số văn bản sau để tham mưu UBND cấp tỉnh xây dựng, trình HĐND cùng cấp ban hành quy định về chế độ nhuận bút, thù lao đối với các sản phẩm truyền thông của cấp huyện, cấp xã:

+ Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/3/2014 quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản;

+ Thông tư số 05/2024/TT-BTTTT ngày 14/6/2024 của Bộ trưởng Bộ TTTT hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực báo chí thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ TTTT;

+ Thông tư số 56/2023/TT-BTC ngày 18/8/2023 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở.

+ Một số văn bản khác có liên quan; các quy định đặc thù của địa phương.

11. Quy định về hoạt động thông tin cơ sở của cấp huyện

- Hiện nay cả nước có 666 đài truyền thanh-truyền hình cấp huyện, trong đó có 609 đài đã sáp nhập thành một bộ phận (tổ/đội) của Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao, Trung tâm Truyền thông và Văn hóa hoặc Trung tâm có tên gọi khác của cấp huyện và 57 đài đang hoạt động độc lập.

- Đối với 39 huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh không có đài truyền thanh-truyền hình (trừ 02 huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa), có 17 địa phương tổ chức Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao (có bộ phận làm thông tin, truyền thông) và 20 địa phương tổ chức Trung tâm Văn hóa và Thể thao (không có bộ phận làm thông tin, truyền thông), gồm: TP Hồ Chí Minh có 17 quận, Đà Nẵng có 02 quận và Lạng Sơn có 01 thành phố.

- Về tên gọi khác nhau của các Trung tâm do chính quyền địa phương quyết định trên cơ sở sáp nhập đài truyền thanh - truyền hình với các đơn vị sự nghiệp của ngành văn hóa, thể thao và du lịch. Chẳng hạn:

+ Hà Nội sáp nhập đài với Trung tâm Văn hóa và Thể thao thành Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao;

+ Quảng Ninh sáp nhập đài với Trung tâm Văn hóa thành Trung tâm Truyền thông và Văn hóa;

+ Thanh Hóa sáp nhập đài với Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành Trung tâm Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch;

+ Hà Tĩnh sáp nhập đài với Trung tâm Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch thành Trung tâm Văn hóa  và Truyền thông. 

- Để giải quyết “khoảng trống” pháp lý đối với hoạt động TTCS ở cấp huyện, Nghị định 49 quy định hoạt động TTCS của cấp huyện là hoạt động do đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện hoặc bộ phận chuyên biệt làm công tác TTCS (tổ, đội) thuộc Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao, Trung tâm Truyền thông và Văn hóa hoặc Trung tâm có tên gọi khác của cấp huyện thực hiện và nhiệm vụ của đơn vị/bộ phận này được quy định cụ thể tại Điều 40.

- Tuy nhiên, Nghị định 49 không quy định tên gọi, tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, biên chế nhân sự của đơn vị/bộ phận chuyên biệt làm công tác TTCS của cấp huyện. Nội dung này thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 24 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập: UBND cấp huyện quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp cấp huyện theo quy định của pháp luật, phân cấp của UBND cấp tỉnh. 

- Hiện nay Bộ TTTT đang tổ chức đánh giá tình hình hoạt động của cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện để tham mưu đề xuất với cơ quan có thẩm quyền các chính sách, giải pháp phát triển hoạt động thông tin cơ sở của cấp huyện trong thời gian tới (hướng dẫn tại văn bản số 1424/BTTTT-TTCS ngày 15/4/2024 của Bộ TTTT).

12. Quy định về người làm thông tin cơ sở

Hiện nay người làm thông tin cơ sở được quy định tại Nghị định 49 và Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, cụ thể:

- Khoản 5, Điều 3 của Nghị định 49 quy định về hoạt động thông tin cơ sở của cấp huyện (người làm việc ở đài truyền thanh - truyền hình, hoặc các Trung tâm là viên chức).

- Điểm b, khoản 2, Điều 7 và khoản 1, Điều 21 của Nghị định 49 quy định trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc bố trí nhân sự để thực hiện hoạt động thông tin cơ sở (công chức văn hóa - xã hội, người phụ trách đài truyền thanh, tuyên truyền viên cơ sở).

- Khoản 6, Điều 11 Nghị định 33 quy định về công chức văn hóa - xã hội.

Do đó, người làm thông tin cơ sở là viên chức đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện hoặc bộ phận chuyên biệt làm công tác thông tin cơ sở thuộc Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao, Trung tâm Truyền thông và Văn hóa hoặc Trung tâm có tên gọi khác của cấp huyện, công chức văn hóa - xã hội cấp xã, người phụ trách đài truyền thanh cấp xã, tuyên truyền viên cơ sở.

13. Quy định về điều khoản chuyển tiếp

- Nghị định 49 quy định đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao, Trung tâm Truyền thông và Văn hóa hoặc Trung tâm có tên gọi khác của cấp huyện có hoạt động truyền thanh chấm dứt hoạt động phát sóng, tiếp sóng chương trình phát thanh trước ngày 31 tháng 12 năm 2025.

- Theo Quyết định số 1381/QĐ-BTTTT ngày 07/9/2021 của Bộ TTTT ban hành Chiến lược phát triển lĩnh vực TTCS giai đoạn 2021 - 2025, từ năm 2021 trở đi các địa phương không đầu tư nâng cấp hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh của cơ sở TTTH cấp huyện, chỉ duy trì hoạt động hệ thống truyền dẫn phát sóng hiện có cho đến khi xuống cấp, hết khấu hao. Từng bước chuyển đổi hoạt động của cơ sở TTTH thành cơ sở truyền thông thuộc Trung tâm Truyền thông và Văn hóa/Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao cấp huyện có chức năng, nhiệm vụ sản xuất nội dung truyền thông đa phương tiện.

Để triển khai nhiệm vụ chuyển đổi này, Quyết định 1381/QĐ-BTTTT đã hướng dẫn các địa phương:

Thứ nhất, nâng cấp, hiện đại hóa thiết bị kỹ thuật, số hóa sản xuất nội dung truyền thông đa phương tiện để tuyên truyền, phổ biến trên hệ thống đài truyền thanh cấp xã ứng dụng CNTT-VT; đăng tải trên cổng/trang thông tin điện tử, bảng tin điện tử và các phương tiện truyền thông khác của cấp huyện; cộng tác sản xuất, cung cấp nội dung cho các đài PTTH cấp tỉnh và Trung ương. Các địa phương sử dụng nguồn lực của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, ngân sách địa phương để đầu tư, hiện đại hóa các thiết bị kỹ thuật sản xuất nội dung.

Thứ hai, rà soát, sắp xếp nhân lực làm việc ở cơ sở TTTH cấp huyện theo hướng nhân lực thực hiện nhiệm vụ truyền dẫn, phát sóng (nhân viên kỹ thuật) có thể tinh giảm dần, hoặc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để quản lý, sử dụng các thiết bị kỹ thuật số; hỗ trợ quản lý kỹ thuật đài truyền thanh cơ sở; hoặc chuyển đổi sang thực hiện nhiệm vụ sản xuất nội dung. Nhân lực thực hiện nhiệm vụ sản xuất nội dung (phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên) tập trung sản xuất nội dung truyền thông đa phương tiện.

Thứ ba, tiếp tục tổ chức sắp xếp, sáp nhập các đài TTTH cấp huyện còn lại với các đơn vị sự nghiệp khác trên địa bàn theo hướng tinh gọn, từng bước chuyển đổi hoạt động thành cơ sở truyền thông thuộc Trung tâm Truyền thông và Văn hóa/Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao cấp huyện; hoàn thành trong năm 2022 và 2023.

Thứ tư, đối với những quận không có đài TTTH, địa phương tổ chức cơ sở truyền thông thuộc Trung tâm Truyền thông và Văn hóa/Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao quận để cung cấp thông tin cho các đài truyền thanh phường, cổng/trang thông tin điện tử, bảng tin điện tử và các phương tiện truyền thông khác của quận; cộng tác sản xuất, cung cấp nội dung cho đài PTTH thành phố và Trung ương.

Như vậy, để chuyển đổi hoàn toàn hoạt động của cơ sở TTTH cấp huyện từ sản xuất, truyền dẫn phát sóng phát thanh là chính sang sản xuất nội dung truyền thông đa phương tiện, đa nền tảng, Bộ TTTT đã hướng dẫn các địa phương có thời gian 05 năm để chuẩn bị.

Lưu Xuân Dũng - VHTT